7 tháng 1, 2013

Họp mặt cựu TSQ LK4 tại Hà Nội

* Ngày 06 / 01 / 2013, cựu TSQ LK4 họp mặt kỷ niệm 65 năm Ngày Thành lập Trường.
LỄ KỶ NIỆM 65 NĂM TRƯỜNG TSQ LK4 (6-1-1948  -  6-1-2013) được tổ chức tại Hội trường Bảo tàng Hồ Chí Minh - 19 Ngọc Hà- Ba Đình- Hà nội.
Sáng Chủ nhật 6/1/2013, trời Hà Nội rét đậm. Ngoài trời 10-11 oC. Các cụ cựu TSQ nhưng tuổi đều cỡ trên dưới bát tuần, có các cán bộ của Trường đã có tuổi gần 90 vẫn hăng hái có mặt. Trong số cựu GV của Trường đặc biệt có Cụ Doãn ngọc Trâm (dạy Tiếng Pháp) là mẹ Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, có mặt ở hàng ghế đầu. Khách mời  có:- Nguyên Thượng Tướng Nguyễn Quốc Thước,có một nhiệm kỳ là Tư Lệnh QK4 và từng là Đại biểu Quốc Hội các khóa trước, là TSQ LK4 "danh dự và đặc biệt" ; -con gái Cố Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn , Tướng Nguyễn Sơn là người đã sáng lập ra Trường TSQ LK4; - một đại tá phi công đã nghỉ hưu , vốn là con trai của một mẹ chiến sĩ TSQ tại Thanh Hóa.
Ngoài số cựu TSQLK4 hiện nay đang ở HN còn có một số bạn ở các tỉnh phía nam ra dự họp mặt: Đoàn TP HCM 4 bạn "đi Jet ra HN chịu rét" nhưng hết sức hân hoan gặp gỡ, chuyện không muốn dứt; Nha Trang có 2 bạn - khi dùng bữa cơm TSQ ngày nay ở HN trong khuôn viên Bảo Tàng HCM, một bạn đã hóm hỉnh "không dùng răng giả" chỉ còn có bao nhiêu răng thật thì "măm " được bấy nhiêu, nên đã không xài được kẹo "cu đơ" chính hiệu của các bạn cựu TSQ Nghệ - Tĩnh đem ra ! Còn có một vài bạn ở Quảng Bình cũng ra dự. Tôi không nắm bắt được con số nhưng chắc chắn phải trên trăm con người có mặt trong tổng số nếu có danh sách phải là ngàn cựu TSQ LK4.
Thay mặt Ban LL Cựu TSQ LK4, Đại Tá Đinh Quang Thiệu, nguyên Tổng Đội Trưởng phát biểu ,ôn lại chặng đường từ ngày Thành lập Trường đến nay đã 65 năm qua, về lứa tuổi "Anh" Thiệu nay đã  87 và các "em" TSQ hồi đó phần đông ở tuổi 15, 16 thì nay cũng là 81, 82 , ... tất cả đều đã là các "cụ". Nhớ lại những gì trong KC , trải qua gian khổ và sự trưởng thành của cựu TSQ cho đến ngày nay vẫn giữ vững ngọn cờ truyền thống TSQ của Quân đội ND VN. Không thể không tưởng niệm những người đã mất, và cũng rất tự hào những cựu TSQ đến ngày nay đã đạt được những thành công rạng rỡ; trong số cựu TSQ LK4 đã có một "bạn" có một nhiệm kỳ UV Bộ CT & Bí Thư Thành ủy HN, các bạn khác có học hàm học vị GS TS NGND ...Hào hứng nhất là lúc tất cả cùng đứng lên hát toàn thể bài ca TSQ : " Đoàn TSQ vượt đường chông gai mà theo chí lớn ... ". Anh Cựu Tổng Đội Trưởng cũng không quên nêu lên Trưởng Ban LL Cựu TSQVN hiện nay là Anh Lê Hồng Chương (nguyên là blogger Chipbong trước đây và nay là blogger Bauong).
Tôi xin đăng tải một vài hình ảnh buổi họp mặt. Tiếc rằng trong Hội trường ánh sáng "huỳnh quang" khó cho ảnh đẹp và ảnh chụp toàn thể thì tôi phải chụp lại từ ảnh chung (không có điều kiện ra bấm máy riêng) nên các ảnh chưa được như ý.

                               Cùng hát bài ca Thiếu Sinh Quân.
                        Bà Doãn Ngọc Trâm (mẹ của LS Đặng Thùy Trâm) thứ 6 từ phải sang. Đang vỗ tay theo nhịp hát.

         " Anh " Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư Lệnh QK4 phát biểu.

              Cựu TSQ Vũ Tuấn GSTS (cháu của Tướng Nguyễn Sơn-gọi Tướng Ng.Sơn bằng Bác) và con gái của Tướng Nguyễn Sơn trong Hội trường .(Thứ 1 và 2 từ trái sang). Anh Tuấn cùng một trung đội với tôi (tức là bạn cùng lớp). Một trung đội = một lớp.

                           Chăm chú lắng nghe trong Hội trường.

                             Mừng thọ các cựu TSQ tuổi >= 85.

               Một phần ảnh chụp chung toàn thể (fiohantb chụp lại).
          Fiohantb , đứng đầu ở hàng thứ 2 bên phải - áo choàng trắng.

5 tháng 1, 2013

Việt - Trung: ' Những điều không thể không nói '

* Theo VNnet.

Việt - Trung: 'Những điều không thể không nói'
Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít  nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước.
Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu truyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.
Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy.
Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: "Những điều không thể không nói ra" mà Tạp chí "Tri thức thế giới" của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: "Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung - Việt trước năm 1949" (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) - "Quan hệ Trung - Việt từ 1949 đến nay" ( Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) - "Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam" (Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) - "Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ" (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và "Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á" (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).
Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt - Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.
Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.
Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà "Những điều không thể không nói ra" đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.
*   *

1.  Lịch sử thành văn của nước Việt - nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen - xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là "thời kỳ Bắc thuộc" - một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn.

Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện " sát phu, hiếp phụ", "bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi" cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa", viết trong " Đại cáo bình Ngô".

Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này"trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị". Tác giả của "Diễn biến quan hệ Việt - Trung trước năm 1949"chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì "phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra".
Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ  binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh "Giao Châu" (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống.

"Hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới". Tác giả: Nhan Sáng/ Ảnh đoạt giải cuộc thi Khoảnh khắc vàng
Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của "Những điều không thể không nói ra" không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì "chính sử" luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác).
Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa "phù Trần, diệt Hồ" của nhà Minh đầu thế kỷ XV. "Phù Trần diệt Hồ" ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: "Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ" (theo "Minh sử").
Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là "kỷ Hậu Trần" thì người Minh lại gọi là "giặc" và phái binh đàn áp! Một thời kỳ "Bắc thuộc mới" kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi "chim chả, ngà voi" tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi - Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được "cuộc phù Trần" về bên kia biên giới.
Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, "giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam" được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ "tông phiên" thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực.
Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp - nhất là những sản vật quý hiếm - cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là "không đáng kể", "tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ "hồi tặng" (từ phía triều đình Trung Quốc)" được.
Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: "Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp" (trích Hồi ký xuất bản bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba).
Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh... xung quanh vấn đề này.
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa - văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận"khoác lác", "hư cấu"? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích "đưa vào nội dung giáo dục quốc dân" để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.
2.    Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến - có lúc lên đến hơn nửa triệu - nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận.
Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân ...), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu.
Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc.
Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen.
Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5.
Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt - Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương).
Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.
3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để "đánh trả", "trừng phạt" cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là "anh em" vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu "các nước anh em" thường làm).
Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc "đánh trả" và "trừng phạt" ấy - xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết - mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong "Những điều không thể không nói ra".
Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc "tiến quân" trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa - Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt - Trung; 1983 - 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang - Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa - Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là "sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam"? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, "Nguyên cớ ư ? Ở ta!"
Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 - 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!
Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.
Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã "hoàn toàn thay đổi lập trường" về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.
Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Giúp bạn là giúp mình", hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết.
Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.
Đáng ngạc nhiên là trong bài "Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á", tác giả gợi lại vấn đề không có thực là "lãnh thổ K.K.K" và "một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam". Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là "phong trào K.K.K"? Sự trung thực cộng sản - nếu có thể gọi như vậy - là ở chỗ nào?
Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như "Thế giới tri thức" lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài "Quan hệ Việt - Trung từ năm 1949 đến nay", tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam.
Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức "sự thật lịch sử"?
Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường "Việt Nam bắt nạt Trung Quốc", "Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi", để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ : Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia - Thái Lan trong "tích tắc", thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự "người nước ngoài" bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ.
Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch - chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.
Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là "những điều không thể không nói ra", không thể không làm rõ vậy thôi.
TS Vũ Cao Phan
----
Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ "Những điều không thể không nói ra" hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).

3 tháng 1, 2013

TÔI ĐẾN VỚI LÀNG QUẾ LƯ

* Bài đăng lại từ blog Yahoo.VN
+ Cuối tháng 11 / 2012 Làng (BLOG) LSQL họp mặt kỷ niệm 5 năm Blog LSQL. Không khí đang vui mừng phấn khởi và chờ đón một chặng đường tiếp theo của Làng nâng lên một tầm cao hơn, đông đảo hơn, chất lượng hơn, thành công hơn.
- Đột ngột, Yahoo! Blog ra thông báo chạy tít trên đầu tất cả mọi blog vào ngày 06/ 12 /2012 : Đúng ngày 17 / 01 / 2013 Yahoo!Blog đóng cửa, ngừng hoạt động ! Khỏi phải nói đó là một "biến cố" của Làng !
+ Nhưng cũng nhanh chóng chưa từng có, chưa đầy một tuần sau, đúng vào ngày đẹp nhất của năm 2012, ngày 12 / 12 / 2012 Đình Làng mới đã cất lên trên miền đất mới , blogspot; và các nhà cũng dần tập hợp lại
với Làng mới ở khu đô thị blogspot, đến nay hầu như đã hội tụ đông đủ hầu hết các "hộ" và cư dân của Làng. BĐH đề xuất cách dựng xây Làng mới, phân công thực hiện ,bảo toàn tài sản Làng cũ đã có, và chia sẻ giúp đỡ nhau nhanh chóng tạo dựng các blog " căn hộ" ổn định , nâng dần khang trang đẹp đẽ... cho đến nay đón năm mới 2013 chúng ta vui mừng và tự hào một Làng Quế Lư đông vui mạnh mẽ lại bước tiếp chặng đường của mình đàng hoàng , chắc chắn lớn mạnh, thành công như mong muốn. Mọi người (cư dân LSQL) lấy lại khí thế viết bài, đăng bài, lời bình (comment), trao đổi gửi gắm tình cảm niềm tin.
* Cuối tháng 11 / 2012, tôi - với tình cảm thực sự của mình với Làng Quế Lư đã viết và đăng tải bài TÔI ĐẾN VỚI LÀNG QUẾ LƯ (trên Yahoo!Blog). Nhưng với "biến cố " chuyển Làng nói trên chắc là các cụ các bạn chỉ mới có ít người đọc đến. Mọi việc nay hầu như đã khá bình ổn, tôi thấy phần mình nên đăng lại bài nói trên, như là một kỷ niệm đáng kể nhất của năm 2012 với tôi, đồng thời cũng xem như một chào mừng năm mới 2013 đến Làng mới xây nên trên miền đất mới blogspot. Bởi tuy còn 2 tuần nữa thì Yahoo! blog mới đóng cửa nhưng hầu như chúng ta đều đã " từ biệt" nơi cũ này vì cũng chẳng còn lưu luyến làm gì !



TÔI ĐẾN VỚI LƯ SƠN QUẾ LÂM
                                                 Phần thứ nhất
     * Đất nước Trung Quốc rộng lớn ( TQ cả Hồng Kông  9’ 598’ 100 km2 ), (1a), so với  Việt Nam ( 332’000 km2 ) (1b), thì TQ rộng xấp xỉ 29 lần nước ta.  Về dân số thì TQ 1’291 triệu người, VN là 79,5 triệu; dân TQ đông gần gấp 16 lần dân ta (2).  Ở láng giềng một nước bạn như thế, khi “bình yên” thì không sao, nhưng khi mà họ cố tìm cách “gây chuyện” nhất là hiện nay nổi lên vấn đề biển đông và họ dựng lên chuyện đường lưỡi bò trên biển , cùng với ý đồ TQ lăm le thu gom Hoàng Sa và muốn cả Trường Sa của chúng ta thì quả thật nước ta đang đứng trước một nguy cơ, một thử thách của cả dân tộc , của đất nước.
*
59 năm về trước, vào năm 1953, lúc đó toàn dân ta đang trong cuộc KC chống thực dân Pháp thời điểm ác liệt, cho đến 1954 ta mới giành được chiến thắng Điện Biên Phủ, tạo bước ngoặt đến thắng lợi giải phóng Thủ Đô, lập lại hoà bình miền Bắc. Thời gian đó TQ và VN đang có quan hệ hữu nghị quốc tế tốt đẹp. Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động VN (Đảng CSVN ngày nay) thấy trước yêu cầu phải đào tạo nhân tài cho đất nước thời kỳ xây dựng sau chiến tranh; được nhân dân , Đảng CS và Chính Phủ TQ lúc bấy giờ giúp đỡ, thành lập Trường Thiếu Nhi VN Lư Sơn - Quế Lâm tại 2 tỉnh Giang Tây và Quảng Tây TQ cho hơn 1000 học sinh VN sang sống và học tập trong 5 năm (1953 – 1957) (3).
+ Các em thiếu nhi VN hồi đó mới chừng 10, 12 tuổi ( nhỏ nhất 7 tuổi, lớn nhất 13 tuổi) được chọn là con em cán bộ cách mạng, gia đình có công với CM, một số thiếu sinh quân, từ các tỉnh Khu 5, k4, và phíá bắc, Việt Bắc ; được đưa đến Bắc Sơn (trong KC chống Pháp, hầu hết là phải đi bộ gian nan và nhiều hiểm nguy ) tập kết,rồi đưa sang TQvào Trường.  Kỷ yếu “ Trường Thiếu Nhi VN Lư Sơn - Quế Lâm” có từ đấy.

* Tôi (người viết bài này) chưa từng đến Ly giang , rừng quế; chưa đặt chân lên đất Giang Tây, Quảng Tây; tuy cũng đã có dịp đến Bắc Kinh hay Thượng Hải; nhưng như một cái duyên đến muộn  _________________________________________________________
(1a,b) và (2):
Theo Bách khoa tri thức phổ thông , XB năm 2001. Số liệu trước năm 2000.
(3) Có các sách và tư liệu về Trường Thiếu nhi LS-QL, chẳng hạn cuốn
  Lư Sơn - Quế Lâm - Một thời để nhớ; XB 2003.
_________________________________________________________
khi đã nghỉ hưu, gặp gỡ các bạn đều ngoài tuổi sáu mươi cho đến nay đều đã ở tuổi “cổ lai hy”, hầu hết đều là cựu học sinh LS-QL K5, và trở thành những người bạn thân thiết. Thêm nữa “bà xã” vốn là một trong số học sinh LS-QL (K2) sau được đi học tiếp ở Liên Xô cũ (nay là nước Nga) vào Trường Thiếu nhi VN Internat Moskva, đó là mối dây liên hệ đầu tiên cho tôi tìm về “ngày xưa”, gặp LSQL.  Điều gặp gỡ thú vị ban đầu, không phải là từ đời thực, mà là từ BLOG, từ nhóm các bloggers cựu học sinh LSQL K5 lập nên một tập hợp blog thành nên một LÀNG và có tên Làng LSQL .
* Đến nay tháng 11 / 2012 Làng LSQL tròn 5 tuổi. Phải nói rằng có một số các anh chị vốn cựu học sinh khối lớp 5 LSQL đi đầu khởi xướng nên Làng, có phuơng châm rõ ràng với BLOG, đó là:
” NHÂN VĂN, TRÍ TUỆ và HÀI HƯỚC”,
đúng cho đến nay; mặc dầu sau 5 năm , đất nước ta đã có các đổi thay về cơ chế trong nước ; đặc biệt là tình hình chính trị thế giới , nước láng giềng TQ có nhiều chuyện nóng với VN, không còn hữu nghị như xưa !

** Các bạn K 5 LSQL ( cựu học sinh khối lớp 5 LSQL) chưa phải là tất cả K5 và cũng chưa là đồng đều nhau về chơi blog, nhưng trong số đó có thể nói có cả hàng chục “cụ” xứng đáng mở đường cho các bạn ( cụ) nối vào tạo nên các “ngôi nhà” của Làng, ngày một phong phú, sôi nổi , nội dung chất lượng và cả thiết kế trang trí cho các “nhà” ngày một đẹp đẽ. Khi tôi bước chân đến Làng, vào đầu năm 2009 thì Làng đã hơn 1 tuổi. Khi đó tôi đã gặp các blog (ngôi nhà của Làng) có các tên tuổi cho mình phải học tập : Nguyệt Ánh, Thanh Mai, Tiến Hoàn, Ngọc Trâm, Calathau (Quang Trung), KỳGai, Diachuoansai (Thế Long), Bongbanbien (Trung Hải), Cusiquelam (sau đổi là Kyvinhhung – Huy Châu), Biinql (Bích Ngân), Teresa (Minh Gương), LệThuỷ, Nữ Hiếu, Thạch Quân (Như Lý), chaoquelam (Như Thanh) ở CH Séc; Chipbông (Thầy giáo Chương), Trác, và một số các bạn từ QL sang Internat Moskva vốn là K5 hay không K5, như Nhật Lệ, Faina_dang (Hồng Phương), v.v… Còn có một số ít blog tạo ra nhưng blogger chưa có mấy lúc viết bài (nói theo cách  của các cụ là làm nhà mà thường khoá cửa đi vắng ) nên tôi không nêu thêm. Ngoài ra còn có một ít blog cũng là của cựu HS LSQL khối khác hoạt động độc lập hay nói chung là BẠN BÈ, và của những người bạn khác . Xin nói chi tiết hơn : Thời gian đầu tôi (đã nói ở trên , tôi vốn không là cựu HS K5) nên chỉ mới biết “ảo” , qua các tên blog , theo thời gian mới dần biết thêm “thực” (tên, ngườì) … cho đến nay đã là cư dân của Làng và sau gần 4 năm gắn bó với Làng, gần nắm chắc được hết các thành viên (thực) của Làng, tay bắt mặt mừng mỗi khi gặp mặt.

** Viết; viết bài, viết lời bình (comment). Viết ít, nhiều; ngắn, dài… Viết công khai, viết riêng; viết chân thực , nghiêm trang;  viết vui vẻ , và có khi viết cười đùa tếu táo chút … (điều này thì phải chịu phục cụ Nhật Lệ), tất cả tuỳ theo điều kiện và khả năng có thể. Dầu thế nào , cần viết. Và thơ hay văn, nghiên cứu, sáng tác hay sưu tầm chọn lọc, đều có thể (do mình xác định).

Rõ ràng vào Làng, đến các nhà (cũng như trong đời sống thực) các “nhà” (blog) không đồng đều nhau. Có nhà sinh hoạt phong phú; phòng khách, phòng ăn, nghỉ … phân minh; nhiều thứ đãi khách (có các bài viết hay, thơ vui , ảnh đẹp, thiết kế blog hấp dẫn ); có cụ còn có đủ cả âm nhạc, video, “đèn màu lấp lánh” .  Bên cạnh , cũng có cụ còn để “tuềnh toàng”, đơn sơ, thậm chí đi vắng hoài để khách thẫn thờ chủ nhân mải công chuyện ở đâu – không cần biết nhà có ai đến?

Thế giới BLOG của các cụ cũng có nhiều điều đáng kể.

     Trước hết , phải nói tới vấn đề VI TÍNH.

+ Có cụ giỏi vi tính mọi người thừa nhận : Các cụ Nguỵệt Ánh, Tiến Hoàn, Thanh Mai, Nói Liều, … nhưng cũng có cụ vào sân chơi blog mới học vi tính; học nhờ con, cháu, nay học mai quên… như là đánh vật vất vả với máy móc ! Vừa vui thích vừa khổ sở ! Dễ thấy trên blog.
- Điều mà ban đầu mọi người đều nhận ra là lỗi chính tả (vì ai cũng có đọc bài viết, lời bình) có thể nói đến nay mới hết blog tiếng Việt không dấu. Chúng ta đều khá rõ tiếng Việt không dấu có khi gặp sự cố nên cười hay khóc như thế nào rồi ! Lỗi đâu phải các cụ không nắm được chính tả. Lỗi ở vi tính! Các cụ chưa quen gõ tiếng Việt có dấu, gõ nhầm! Lại còn do học tắt , chưa nắm rõ các key tiếng Việt: Vietkey, Unikey ? thêm nữa càng chưa nắm bắt các bảng mã (code) sử dụng : Unicode, VNI, TCVN, BK v.v… và kiểu gõ : Telex, VNI , Microssoft …
Cần học được WORD ( soạn thảo văn bản) để đỡ vất vả viết trên máy tính ! Để sử dụng can lề (trái, phải, giữa) , cỡ chữ, copy (chép) paste (dán), chữ hoa, chữ thường, kiểu chữ v.v…

+ Và cả máy móc nữa (máy vi tính):
Có cụ ban đầu dùng máy cũ con cháu để lại. Chúng nó dùng thì được,
Nhưng khi các cụ gõ vào thì dở chứng ! Máy treo, không theo lệnh ! Bởi thế hệ trẻ quá thành thạo , nó chỉnh sửa ra ngay nhưng các cụ đâu có biết! Hay có khi chỉ cần lỏng lẻo giắc cắm một chút là “ toi “ ngay! Con cháu thì tìm ra liền nhưng với các cụ biết làm sao đây ? Tôi đã có dịp đến nhà cụ ( T) , khi đó đang dùng máy cũ con cháu dành lại cho, phải nói khối thì tốt nhưng cái bàn gõ quá cũ các chữ nhiều phím phải dán giấy ghi chữ vì mất hết nét ! Gõ chữ (mà lại tiếng Việt) quá vất vả ! Sau này cụ T đã thay bàn gõ mới .
Lại nữa, có cụ chưa quen vi tính nhưng lại dùng ngay laptop, sẽ bất lợi ! Bởi với thiết kế cho gọn nhẹ để phù hợp “xách tay” thì các thiết bị điện tử của laptop cũng rất mảnh, nhạy hơn máy khối, có khi chỉ một va chạm hay một nhấn tay hơi nặng đã có thể “mất điện “ hoặc xoá lệnh ! Thêm nữa lại đặt trên bàn phẳng không cao ngang tầm mắt như màn hình máy khối. Mệt !
Các cụ mới ban đầu sử dụng vi tính , tôi nghĩ nên dùng máy khối. Và nếu có thể nên dùng máy mới, bắt cắm nối các giắc sử dụng thật chắc chắn !

* May mắn mà cũng là thuận lợi với tôi, khi bước vào BLOG tôi đã học khá bài bản WORD ( soạn thảo văn bản) và EXEL (nâng cao soạn thảo).
Tôi không học nhảy chắp vá theo con ,cháu; bởi lẽ một vài điều lúc đầu thì chúng còn có thể chỉ dẫn, nhưng bởi hoặc chúng còn bận công việc, học hành; hay bản thân chúng cũng cần nghỉ ngơi , thậm chí “chơi” (face book, đọc báo điện tử …, trẻ thì chơi games) hỏi chúng nhiều là hơi bị khó! Vả lại khi chúng vắng thì bó tay ! Tôi học hẳn hoi nghiêm chỉnh tại một trung tâm , rất bài bản , từ 2005 – 2006, và ban đầu vào Internet , đọc báo điện tử, sưu tầm bài đọc, viết các bài cá nhân ( của mình, như tìm lại các tư liệu xưa, chỉnh lý , cho vào lưu trong máy) cả in ra khi cần thiết ; cho đến nay tôi vẫn còn dùng một máy in đen- trắng đã dùng hơn chục năm hp Lazer Jet 1100, vỏ tuy cũ đã rất giòn nhưng in vẫn rất đẹp !
- Bây giờ thì còn "lôi" thêm một chiếc máy in ảnh màu Canon iP1980 có thể in nhiều cỡ ảnh. Máy không đắt mấy, nhưng giấy in ảnh và đặc biệt mực in ảnh màu thì không rẻ chút nào ! ( Phát huy thực hành thêm về Photoshop )
+ Không phải lúc nào cũng thung dung suôn sẻ mà ngồi máy tính và chơi blog. Chúng ta có nhiều việc lắm , dẫu là việc của các cụ già nghỉ hưu. Bình thường và bất thường !
- Trước hết là sức khoẻ. May mắn nhất là không ốm đau bệnh tật. Ấy thế nhưng cũng vẫn còn có các vấn đề : Tuổi thất thập cổ lai hy, mấy ai an lành mọi mặt ? Cụ thì nặng tai, cụ thì run tay gõ máy không chuẩn, cụ thì mắt không tỏ có khi phải mang tận 2 kính thành  ra “ 6 mắt” , cụ thì đau lưng ê ẩm, chưa kể khách quan lúc đang hào hứng bài sắp đăng thì mất điện , bài viết vút lên không trung đi biến ! Ôi giời; v.v… và v.v…

- Mấy năm tôi xài vi tính (kể từ 2006) và rồi vào blog (đầu năm 2009) thì bà xã phải điều trị bệnh K cũng khá gian nan , có thời gian dài hàng nhiều tháng nằm viện tại BV Hữu Nghị ( Việt – Xô cũ), có năm nhiều kỳ vào viện , rồi lại xuất viện, hàng tháng hết nhập đến xuất, hết xuất lại tái nhập BV, … sử dụng hóa dược, tiêm chuyền … Và cũng cả có lần tôi cũng phải vào nằm điều trị cùng tại BV Hữu Nghị  cả tháng ! Sau này , năm 2011; nhờ phấn đấu bền bỉ chữa bệnh và hỗ trợ điều trị, kể cả tại các trung tâm tự nguyện có tín nhiệm khác; và sự chăm lo của cả gia đình , bạn bè thân thiết, rất mừng là đến nay, cơ bản đã “quản lý” được sức khoẻ chống sự bành trướng các bệnh của tuổi già, tạm an lành như là một sự “chung sống hoà bình” cho mình nhẹ nỗi lo lão bệnh . Lại vào blog.
               
                                              * * *


BLOG   từ 2008 đến nay, đã qua 2 lần thay đổi thiết kế.
+ Thời gian tôi bắt đầu làm blog, đang là myblog.
Định dạng của blog lúc đó là: 
vn.myblog.yahoo.com/


Qua năm sau, đổi sang 360plus, với định dạng:
vn.360plus.yahoo.com/

Và tháng 4/ 2012 cả Làng đã phải  huyên náo chuyển đổi thành yahoo.blog, như hiện đang theo dạng:
blog.yahoo.com/

Thay cũ đổi mới,
cư dân blog không phải không có vất vả!
Đang quen kiểu này , lại bày kiểu khác ! Nhất là với các cụ còn lúng túng dùng vi tính. Cả các cụ đã có kỹ thuật cao cũng có lúc phải tìm tòi cho ra các điều thay đổi, mất không ít thời gian với đổi mới ! Và cũng có cái hay đồng thời cũng có cái không nên bỏ đi , đổi khác đi ; nhưng đâu quyền nơi mình, tất yếu phải chấp nhận.

                    ( Hà Nội, 19 h , ngày 26 /11 / 2012 -  hết Phần thứ I )


 Gặp mặt Làng Quế Lư (QL) trưa 24 /11 /2012.

Trưởng Làng - Calathau mở đầu buổi họp. Ảnh :fiohantb
***


TÔI ĐẾN VỚI LƯ SƠN - QUẾ LÂM
(Phần thứ hai)

* Câu chuyện nhỏ về cái nickname ( tên tự đặt – dùng thay tên thật khi tham gia cộng đồng mạng). Xin được kể hầu các cụ.

- Cho đến nay , đã qua gần 4 năm,có bạn vẫn cứ hỏi tôi tại sao lại 
fiohantb?  Và vẫn không ít cụ viết nhầm khi cần nêu lên cái “biệt danh” đó.
- Đầu tiên khi đặt một User name (dùng cho lắp đặt một đường truyền Internet , tạo cổng vào mạng), tôi dùng tên khác. Lúc bấy giờ chỉ cần hợp lệ, không lựa chọn nhiều , tôi dùng một cái tên (name) nhiều ký tự chữ số, ký hợp đồng thuê bao Internet (năm 2006); sau này thấy nó “khô khan” quá ! mặc dầu vẫn còn dùng cho email ( là một địa chỉ thư), và tất nhiên là mật khẩu (password ) khác.

+ Năm 2006, chúng tôi (tôi & bà xã - cựu HS Internat Moskva) đến Nga, Moskva và Saint Peterburg ( có gia đình con trai , con dâu & cháu nội ở Moskva). Một hôm , đến thăm Bà giáo xưa của bà xã ở Moskva – Bà Valentina; trong câu chuyên thân mật, bà Valentina hỏi về tôi, tên tôi?
Bà xã (dùng tiếng Nga như người Nga vì là dân Internat) trả lời thay. Nhưng bà giáo Nga không hiểu nghĩa tiếng Việt , tên tôi : phải tìm một tên Nga tương ứng cái tên VN của tôi? À, FIODOR (Phê – Đô) , hay  Piotr ? Vâng, Fiodor.  Như một ánh chớp trong bộ não, tôi “chớp” ngay FIO.   ( Từ nước Nga xa xôi ) .

- Trở về VN. Về Hà Nội.
Sân bay Nội Bài. Cuống vé máy bay , hành lý đều chẳng viết tắt là
HAN đó sao? Tôi ở Hà Nội , chính là HAN.
Ồ, cái nickname đã hoàn thành : FIOHANTB (thêm hai ký tự chữ cái họ và tên lót TB).
- Vâng, đúng là một kỷ niệm , vừa Nga vừa Việt, cái tên vừa “quốc tế” vừa VN, có latinh, có Việt ngữ . Cảm thấy thú vị ! Nhưng cũng có cụ cứ bảo tôi : sao khó “đánh vần “ quá ! Tôi xin chịu lỗi không nghe lời vậy, nhất quyết giữ nguyên . Trân trọng cảm ơn những ai đã sẻ chia .
          
       
     * Về việc làm ảnh trên blog.
Có hai yêu cầu khác nhau:
1/ Nếu chỉ tải ảnh đã có sẵn trên mạng , đưa vào blog : Cách làm theo các bước “kỹ thuật” mà blog đã thiết kế ( chọn ảnh, tải vào album, cho vào vị trí đưa lên blog, tải v.v.) Có thể còn cách khác như sử dụng Photobucket. …
       2/ Tự mình chụp lấy ảnh, và sau đó đưa vào máy tính, tải lên trang blog.
- Tốt nhất là các cụ, các bạn cần có học về
Photoshop thì mới chủ động làm ảnh theo ý mình.
   Cách này thì rõ ràng phải có máy ảnh ( ngày nay đều là máy điện tử), chuyển file ảnh sang máy tính ; chọn lựa xong tải về album, v.v…
* Về làm video : Phức tạp hơn vì bên cạnh quay cảnh , còn ghi âm thanh (hình & tiếng) , khi đưa lên hầu hết phải dựa theo một video sẵn nào đó … nếu tự mình sản xuất thì rất công phu; điều này xin được các cụ đã làm thành thạo ( Nguỵêt Ánh,Thanh Mai, Tiến Hoàn,Nói Liều...) chỉ dẫn.                          
                                                  * * *   
      * Không thể không nói đến phần trang trí. “Đèn màu lấp lánh”, ảnh  động, chữ chạy v.v… Chỉ các cao thủ với tài năng và sở thích mới cho ta các blog đẹp mắt. Tôi không dám lạm bàn. Phải được trợ giúp của các cụ Nguyệt Ánh, Tiến Hoàn, Thanh Mai, Nói liều mới tiếp cận được các kỹ thuật này.

     Phần mình, tôi chỉ trình bày vừa phải , các cụ không trách cứ chữ nhỏ hay mờ nhạt, hình ảnh “lởm khởm” , màu sắc đủ khỏi đơn điệu.
     Làng Quế-Lư vừa tròn 5 tuổi. Bước tiếp một chặng 5 năm nữa.
     Chặng đường 5 năm đầu vừa qua, có nhiều niềm vui, cả nỗi buồn.
    Có bạn đã ra đi mãi mãi (blogger Cỏ Dại – Mai Tâm) ,sự “chia tay” đầy cảm xúc đến mức đã có bài viết “Một cuộc chia tay hoàn hảo” …
    Năm tháng trôi dần, tuổi mọi người tăng thêm, và bệnh “lão “ tăng theo; nhiều cụ tai nghe xuống cấp, cặp mắt tăng thêm 1có khi đến 2 cặp kính, có cụ khớp gối bất như ý phải đi chỉnh đốn, hoặc tay run, răng lỏng, … mỗi khi muốn hội tụ gặp mặt không dễ như xưa.

    Những niềm vui không ít. Các gia đình con cháu trưởng thành , các ngày vui con cái thành hôn, mỗi ngày lễ đó của con cái là một ngày lớp
họp mặt hân hoan. Hơn thế nữa, có các cụ con cái nên cơ nghiệp ở nước ngoài, đã có các cuộc đi thăm hết sức tốt đẹp như vừa qua cụ Calathau đi Úc, cụ Trác đi Thuỵ Điển, cụ Thiếu Hiệu đi Canada, …
    Bất luận thế nào , mối liên hệ Trường TNVN LSQL là bền chặt ngày một thấm đượm hơn thành CHẤT QUẾ LÂM , tình Quế Lâm trong mỗi con người cựu HS LSQL, đặc biệt khối 5 (K5) mãi mãi.
    * Những người bạn thân thiết của LSQL càng quý trọng truyền thống của Trường TNVN LSQL, và “Chất Quế Lâm” đặc biệt của K5.                                                 


    Trước khi kết thúc , tôi xin được nói thêm ít nhiều về mình , thực- không “ảo”. Trên blog thì không nhất thiết. Về tuổi đời , tôi cao tuổi hơn các bạn K 5 . Bởi các bạn cựu HS K5 hầu hết đều có năm sinh là 1940 trở về sau, 1941, 1942, có sớm hơn cũng chỉ từ 1939. Năm sinh của tôi là 1935 - Ất Hợi, nói chung hơn các bạn 4 ; 5 tuổi. Vào cuộc sống công tác, rõ là tôi sớm hơn các bạn.
    Năm 1955 tôi đã là nhà giáo của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Trong khi đó các bạn còn đang là HS cấp 2 LSQL(Dục Tài HọcHiệu).Tuy nhiên, phong tục VN ta , xử Lễ về bên “ngoại” họ hàng nhà bà xã, thì bà xã thuộc lớp em của K 5. Khi ở Dục Tài Học Hiệu , Minh Hoà (bà xã) ở khối lớp 2 , sau sang Liên Xô cũ vào Internat Moskva - lớp 1; Bởi vậy, “trẻ” hơn các bạn. Do vậy theo phép ứng xử khi thăm chào bên họ ngoại , tôi thường khi phải có lời “thưa” các “anh, chị”.
    
Thời gian sẽ trôi mau ! Chúng ta đã trong hàng ngũ các cụ từ 70 đến 80; cần hết sức kịp thời nắm bắt dịp tốt cho tinh thần, tình cảm , niềm tin; đặc biệt quan tâm bảo vệ sức khoẻ để sống tốt , sống có sức sống có hạnh phúc cho chính chúng ta và cho con cháu , bạn bè, người thân.
     Đã là công dân của Làng, khi còn ích tráng , tôi luôn luôn bên các bạn K 5 Quế Lư , đồng tâm và giữ vững tinh thần NHÂN VĂN, TRÍ TUỆ, HÀI HƯỚC, giàu chất “QUẾ LÂM ” trong sáng ,tỏa hương. Chúc Làng bước tiếp đỉnh cao trong 5 năm tới.   
                                 (  Hà Nội , 22h ngày 27 /11 / 2012 -   FIOHANTB )
     
    

2 tháng 1, 2013

Cô sinh viên nghèo và suất học bổng Tiến sĩ Toán

* Theo Dân trí
Cô sinh viên nghèo và suất học bổng tiến sĩ Toán

Sau 3 năm hoàn thành chương trình thạc sĩ tại Trường ĐH Tổng hợp Quốc gia Belarus với số điểm đứng đầu khóa học, cô sinh viên nghèo Lê Thị Thiên Thủy (23 tuổi, quê xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, Quảng Trị) đã giành được học bổng du học tiến sĩ toàn phần tại Cộng hòa Ý.

Trở về quê sau ba năm với tấm bằng thạc sĩ Toán học, cô sinh viên nghèo Lê Thị Thiên Thủy (23 tuổi, quê xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, Quảng Trị) suy nghĩ rất nhiều về việc kiếm việc làm hay đi học tiếp. Hiểu nỗi lòng con, ông Giáo động viên: “Nếu có điều kiện con cứ thực hiện ước mơ của mình. Ba mẹ bây giờ cũng đã đỡ vất vả hơn trước…”.
Sau 3 năm hoàn thành chương trình thạc sĩ tại Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Belarus với số điểm đứng đầu khóa học, Thiên Thủy đã giành được học bổng du học tiến sĩ toàn phần, ngành Toán học ứng dụng tại Trường Đại học Padova danh tiếng của Cộng hòa Ý (Repubblica Italia).
Chỉ còn ít ngày nữa là Thủy lên đường sang Italia. Ngôi nhà nhỏ của vợ chồng ông Lê Văn Giáo và bà Ngô Thị Hài (đều 61 tuổi, xã Triệu Long) rộn rã tiếng cười. Vợ chồng họ vui vì không chỉ gặp lại con sau 3 năm học ở đất nước Belarus xa xôi, mà còn tự hào vì Thủy đã xuất sắc giành được học bổng trên.

Lê Thị Thiên Thủy trước ngày đi du học.
Lê Thị Thiên Thủy trước ngày đi du học.
Thủy là con thứ 4 trong gia đình có 5 anh em, sớm phải theo ba mẹ lo việc đồng áng. “Năm 2007, Thủy thi đỗ vào 2 trường đại học (thủ khoa Toán Trường Đại học Sư phạm Huế và á khoa Trường Đại học Y Huế), gia đình muốn cháu theo nghề y, nhưng khoản học phí vô trường lớn quá nên đành khuyên cháu học sư phạm. Cũng may, cháu được chọn vô diện du học, hai vợ chồng tui đỡ vất vả phần nào” - bà Hài cho biết thêm...
Sau 2 năm hoàn thành chương trình tại Đại học Sư phạm Huế, năm 2009, Thủy bắt đầu hành trình đến Belarus để tiếp tục chặng đường 3 năm cho chương trình thạc sĩ Toán học. “Lúc học ở Belarus, 3 năm liền em không được về nhà vì trong suất học bổng không có khoản phí tiền máy bay về nghỉ Tết. Nhiều lúc em nhớ nhà lắm. Những lúc đó, em lại lao đầu vào học để vượt qua” - Thủy tâm sự.
Trở về quê sau ba năm với tấm bằng thạc sĩ Toán học, Thủy suy nghĩ rất nhiều về việc kiếm việc làm hay đi học tiếp. Hiểu nỗi lòng con, ông Giáo động viên: “Nếu có điều kiện con cứ thực hiện ước mơ của mình. Ba mẹ bây giờ cũng đã đỡ vất vả hơn trước, anh chị đã ra trường có việc làm ổn định, ba mẹ chỉ còn lo cho em út học đại học nữa thôi”. Thủy rớm nước mắt nghe ba tâm tư. Em xác định, chỉ có cách học tiếp mới thực hiện hoài bão của mình, dù trước mắt sẽ phải chịu nhiều gian khó...
Theo CAND

1 tháng 1, 2013

VÀI HÌNH ẢNH THẾ GIỚI CHÀO NĂM MỚI 2013

* Đăng lại ảnh theo Dân trí.

Pháo hoa trên bầu trời TP Bucaret ,Romania; trên đường phố người dân náo nức chào đón năm mới.
      

     Người dân Malaysia mừng năm mới trên quảng trường Độc Lập ở thủ đô Kualar Lumpur.


    Pháo hoa thắp sáng bầu trời London và tháp đồng hồ BigBen ở Anh, chào năm mới.


                        Pháo hoa ở cầu cảng Sydney và nhà hát Opera, Australia.


                        Pháo hoa ở TP Berlin - Đức đón chào năm mới 2013.